Showing posts with label Nghiệp vụ sư phạm. Show all posts
Showing posts with label Nghiệp vụ sư phạm. Show all posts

Thursday, 27 April 2017

Bảng biểu treo tường

Bảng biểu treo tường

1. Định nghĩa bảng biểu treo tường

Định nghĩa: Bảng biểu treo tường là phương tiện nhìn tĩnh thể hiện một cách trực quan về các sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng các đường nét, các hình vẽ, các màu sắc, và nhiều dạng đồ họa khác nhau.

Bảng biểu treo tường
Bảng biểu treo tường

2. Các loại bảng biểu treo tường

- Biểu đồ: ví dụ biểu đồ chỉ tiêu tuyển sinh từng năm học…
- Sơ đồ: ví dụ sơ đồ Graf (vô hướng và có hướng).
- Đồ thị: ví dụ đồ thị về kết quả học tập của học sinh theo kỳ hoặc tình hình dịch cúm gia cầm…
- Bảng chỉ dẫn: ví dụ môn luật giao thông…
- Bảng hướng dẫn sử dụng: ví dụ hướng dẫn sử dụng camera..
- Bảng quy trình gia công: ví dụ bảng quá trình tiện ren ngoài…
- Tranh, ảnh, bản vẽ….

3. Những ưu điểm và nhược điểm của bảng biểu treo tường

Ưu điểm:
- Có thể chuẩn bị trước.
- Không đòi hỏi điện hoặc các thiết bị đặc biệt khi trình bày.
- Dễ làm và dễ bảo quản.
- Là phương tiện dùng lâu dài.
- Có thể thu hút học sinh vào việc chuẩn bị.
- Tạo môi trường lớp học đẹp.
- Giá sản xuất không quá cao.
- Nhìn rõ các xu hướng, diễn biến của thời gian, của các quá trình.
- Linh động, đơn giản, có sẵn, nhiều màu sắc.
- Tăng cường khi tương tác trong nhóm.
- Sử dụng nhiều lần, có thể copy vào giấy cho học sinh.
Nhược điểm:
- Không thể chứa đựng được tài liệu có khối thông tin lớn.
- Không có hiệu quả đối với những nhóm đông người.
- Khó điều chỉnh nếu có sai sót.
- Giới hạn tầm nhìn, khoảng cách quan sát.
- Không chịu được ẩm ướt.

4. Yêu cầu cơ bản của một bảng biểu treo tường

Các kiểu chữ viết: Chọn kiểu chữ viết đơn giản và dễ đọc, ví dụ các loại chữ thường, không chân, những điểm quan trọng có thể được nhấn mạnh bằng các chữ in hoa, bằng gạch dưới, bằng chữ đậm hoặc bằng sự lựa chọn màu sắc một cách thận trọng. Không nên sử dụng quá 2 kiểu chữ viết trên bảng biểu.
Khoảng cách chữ: Chữ đều và cách đều; khoảng cách dòng rộng hơn khoảng cách giữa chữ và nên bằng 1,5 chiều cao chữ.
Cỡ chữ: Tối thiểu chữ phải cao 2cm. Các tiêu đề cần được làm nổi bật bằng cách dùng cỡ chữ lớn hơn một chút.
Màu sắc: Sử dụng màu sắc phù hợp và có hệ thống trên bảng biểu làm cho chúng thú vị hơn, hấp dẫn hơn và có hiệu quả hơn. Màu sắc có thể được sử dụng để nhấn mạnh hoặc để phân biệt các phần khác nhau của biểu đồ, dùng nhiều hơn 3 màu thì sẽ ít hiệu quả. Các màu dễ nhìn thấy nhất là màu đen, màu xanh và màu đỏ.

5. Qui trình chuẩn bị bảng biểu treo tường

(1) Lựa chọn nội dung
Chọn nội dung phù hợp với bảng biểu như một khái niệm, một qui trình, một quá trình, một sơ đồ... Mỗi bảng chỉ nên trình bày một ý tưởng.
(2) Lựa chọn loại bảng biểu
Lựa chọn một trong số các sơ đồ, biểu đồ thích hợp với nội dung cần thể hiện.
(3) Chuẩn bị vật tư
- Giấy: Chọn giấy dai, kích thước không nhỏ hơn A2 và các loại giấy màu để trang trí màu sắc.
- Bút vẽ: đầu bút cứng, vẽ trơn trên giấy, đầu bút đủ to.
- Các dụng cụ để vẽ: Thước kẻ, kom pa và các dụng cụ vẽ khác.
- Các dụng cụ để cắt: Dao trổ, kéo…
(4) Thiết kế
- Dùng bảng biểu đơn giản.
- Để lại nhiều khoảng trống (trắng).
- Làm nổi bật các điểm quan trọng.
- Trình bày một ý tưởng trên một bảng biểu.
- Dự định bố cục nội dung (ở đâu, đặt cái gì?) vào một mẩu giấy nhỏ trước khi làm bảng biểu thật.
- Đặt tiêu đề hoặc nhan đề ở phía trên bảng.
- Nghiên cứu các sách, tạp chí có sẵn để tìm những bức tranh và biểu đồ thích hợp, giáo viên không cần phải là họa sĩ mới làm bảng biểu
- Dùng chữ viết hoa và chữ viết thường, điều này làm cho việc đọc dễ dàng
- Cố gắng tuân thủ nguyên tắc số 6: dùng 6 từ trên một dòng và 6 dòng trên một trang.
- Khổ bảng biểu nhỏ nhất là giấy A2.
(5) Làm bảng biểu
- Trên cơ sở có thiết kế, giáo viên cắt dán hoặc phóng to sơ đồ có sẵn trong sách....
- Cho học viên xây dựng bảng biểu treo tường và trưng bày sản phẩm để động viên họ.
- Làm xong treo nó lên tường và ngắm xem ta nhìn thấy gì.
- Kiểm tra xem có lỗi không và sửa chữa trước khi sử dụng.

Bảng biểu treo tường
Bảng biểu treo tường
















(6) Kỹ thuật phóng to
Nhiều khi người hướng dẫn phát hiện thấy trong sách có một bảng hoặc một biểu đồ mà sẽ có thể làm thành một bảng biểu treo tường đẹp. Vấn đề duy nhất ở đây là bức vẽ trong sách quá nhỏ, có một số cách đơn giản có thể phóng to các hình vẽ đó.
* Phương pháp kẻ ô
- Bao quanh bức tranh nhỏ bởi mạng lưới kẻ ô vuông bằng bút chì cách đều. Vẽ cùng một số như nhau các ô vuông to hơn trên tờ giấy rộng hơn (chỗ mà bạn muốn dành cho bức tranh phóng to)
- Dùng bút chì vẽ những gì bạn thấy trong mỗi ô.
* Phóng to bằng OHP
- Kẻ hoặc sao hình vẽ trong sách vào tờ giấy nhựa trong hoặc photo lên giấy trong
Chiếu hình vẽ lên tường và chỉnh theo đúng kích thước phóng to (theo cỡ giấy)
- Đặt tờ giấy lên tường có hình chiếu trên nó và vẽ khắp các nét của hình được chiếu lên.
* Phóng to bằng photocopy
Sử dụng máy photocopy để phóng to lên tới cỡ A0, tuy nhiên các nét photocopy thường không sắc nét và nhỏ quá so với yêu cầu, vì vậy nó chỉ được dùng trong những trường hợp thích hợp.
(7) Bảo quản bảng biểu
Các bảng biểu treo tường có thể dùng lại được nhiều lần hay ít tùy thuộc vào cách cất giữ bảo quản chúng. Một số cách cất giữ thông thường trong kho là:
- Cất giữ để phẳng: Nếu có sẵn một tủ nhiều ô ngăn kéo dẹt, bảng biểu có thể lưu giữ phẳng trong một ô ngăn kéo.
- Treo giữ: Có thể làm một cái giá đơn giản cho phép gắn bảng biểu vào khung và mắc treo, do đó nó được treo thẳng đứng lên.

6. Kỹ thuật sử dụng bảng biểu treo tường

Để lộ dần những thông tin khi trình bày, dùng tờ giấy che toàn bộ bảng biểu khi giới thiệu đến đâu để lộ ra đến đó.
- Dán dần lên biểu đồ khi trình bày. Các hình vẽ, chữ viết được bố trí riêng trên các mảng giấy màu và khi trình bày tới đâu dán lên tới đó.
- Các bảng biểu có các thông tin được dùng lại cho các bài sau nên treo thường xuyên trên tường.
- Dùng bảng biểu để kiểm tra kiến thức học sinh bằng cách che các từ chú dẫn.
- Dùng bảng biểu để làm đề tài cho thảo luận nhóm.
- Khi cần bổ sung vào bảng biểu thì nên vẽ viết vào một thẻ màu và dán bổ sung bằng hồ, không nên vẽ trực tiếp vào bảng biểu.
Bạn có thể tham khảo thêm tại đây.

Sunday, 9 April 2017

Tư thế và vị trí khi đứng lớp của giáo viên

Tư thế và vị trí khi đứng lớp của giáo viên

Tư thế, vị trí đứng lớp của giáo viên như thế nào để đảm bảo bao quát được lớp, đảm bảo tính riêng tư của người học?
Tư thế và vị trí khi đứng lớp của giáo viên
Tư thế và vị trí khi đứng lớp của giáo viên
1.Khi giảng bài:
Để đảm bảo mọi học sinh đều tập trung chú ý vào bài giảng, việc duy trì sự chú ý đến mọi học viên bằng ánh mắt là hết sức quan trọng. Giáo viên có thể đứng lên hoặc di chuyển tới vị trí mà tất cả học viên có thể nhìn thấy mình.
2.Khi tổ chức cho học sinh hoạt động theo cặp hay theo nhóm:
Giáo viên dừng lại với một nhóm/cặp quá lâu có thể khiến học viên cảm thấy áp lực khi phải đưa ra ý kiến. Giáo viên có thể ngồi ở giữa hay trước lớp,
+ Khi học sinh hoạt động riêng lẻ: Giáo viên cần tiến lại gần hơn hoặc di chuyển quanh lớp, giải đáp các thắc mắc của học sinh và đảm bảo rằng học sinh đang thực hiện nhiệm vụ đúng hướng.
Giáo viên có thể để ghế của mình ở giữa lớp, ngồi đó theo dõi học sinh làm việc. Nếu nhóm/học sinh nào đó có thắc mắc chúng ta có thể giải đáp kịp thời mà không khiến các em mất tập trung vì sự có mặt của giáo viên trong cuộc thảo luận.
3.Tìm hiểu lớp học : 
Bước vào lớp, nhìn bao quát lớp một lượt, với một nụ cười trên môi và một câu chuyện vui ngắn sẽ làm cho không khí hoà đồng được khơi dậy – đó đã là thành công bước đầu cho người đứng lớp.
*Tư thế và tác phong:
– Dáng vẻ bề ngoài : Giáo viên ăn mặc chỉnh tề, dáng dấp đĩnh đạc, sẽ gây ấn tượng tốt với học sinh. Và từ đó, các em sẽ sẵn sàng ngồi nghe.
– Cử chỉ đi đứng : Cử chỉ hoà nhã, đi đứng khoan thai ; không hấp tấp vội vàng, cũng không e dè khúm núm, lại càng không nên huênh hoang ‘ra vẻ ta đây’, oai vệ hách dịch.
– Thái độ ứng xử : Khi đứng lớp, cần giữ tư thế đứng nhiều hơn là ngồi, nếu có thể, nên đi tới gần bàn học sinh, tạo sự hoà đồng.
Khi thấy lớp học có vẻ ‘buồn ngủ’ hoặc trao đổi chuyện riêng, bàn tán tâm sự …, tuyệt đối không nên nổi nóng vì đó là hành động ‘phản sư phạm’. Hãy tự xem xét lại mình xem tại sao lại như thế ? Từ đó, cần chuyển hướng ngay cách truyền đạt : một câu hỏi đột ngột, một câu chuyện dí dỏm hài hước, thậm chí có thể cho ‘hát giữa giờ’ một bài hát ngắn …
* Thảo luận, giải đáp thắc mắc:
– Trong tiết học, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương cách truyền đạt. Tuy nhiên, vẫn rất cần có một khoảng thời gian dành cho thảo luận, đóng góp ý kiến, nêu thắc mắc… Đây chính là dịp để chúng ta hiểu thêm về lớp học rút kinh nghịêm cho bản thân.
– gặp những vấn nạn nan giải, những thắc mắc quá đà, nên từ tốn. Tốt nhất, khi bước vào phần thảo luận, nên giới hạn những ý kiến, thắc mắc, biện giải trong phạm vi bài học.
– Thái độ ôn tồn hoà nhã, sẵn sàng tiếp thu những ý kiến (dù là phản kháng, đối lập), trao đổi trong tương quan, không gằn gọc gắt gỏng, đó cũng là lời khuyên rất cần thiết cho giáo viên khi đứng lớp. di chuyển quanh lớp hay bất kỳ vị trí nào ngoài phạm vi hoạt động của nhóm/cặp mà học sinh có thể hỏi khi cần trợ giúp.

Tuesday, 4 April 2017

QUAN NIỆM CỦA KHỔNG TỬ VỀ HỌC SINH

QUAN NIỆM CỦA KHỔNG TỬ VỀ HỌC SINH

Lẽ đương nhiên, theo thuyết chính danh, vị thế của thầy phải hơn trò trong trật tự xã hội: quân, sư và phụ (vua, thầy và cha). Như vậy, ngôi thứ của thầy chỉ sau vua, và trên hơn cha. Người cha có vai trò sinh, dưỡng và đặc biệt là giáo dục người con. Tuy nhiên, người cha chỉ lấy kinh nghiệm sống và nhận định riêng của mình để dạy dỗ con cái, chứ không theo hệ thống tri thức và giáo lý nào. Do đó, người cha không thực hiện vai trò giáo dục tốt hơn người thầy, ngoại trừ người cha có nghề chính là thầy. Khổng Tử muốn nhấn mạnh: giáo dục con người khó hơn sinh và dưỡng. Xét về tri thức và đạo đức, nếu trò ở vị thế là người thì trò kém hơn thầy bốn bậc. Do đó, trò phải tôn trọng thầy, cụ thể là khâm phục tài đức của thầy và xem trọng lời của thầy giảng. Cũng xuất phát từ luận điểm này, người Việt Nam ta có câu nói truyền thống “tôn sư trọng đạo”.
Theo Không Tử, muốn ở vào cái danh nào thì trước tiên phải chính cái danh đó. Muốn làm học trò trước tiên phải tu thân để thành người trước cái đã. Muốn tu thân phải biết lễ nghĩa. Khổng Tử nói với học trò: “Này trò, ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài tôn kính người hơn tuổi, cẩn thận giữ điều tín, gần gũi thân cận với người nhân đức, được như vậy mà còn dư sức thì học tập tri thức nữa.” Không Tử đề cao đạo đức, muốn là người hữu dụng, muốn học bất kỳ ngành nghề nào, thì trước tiên phải học đạo đức. Người có đạo đức, đến khi có tài mới có thể làm điều tốt cho xã hội; ngược lại, nếu không có đạo đức, đến khi có tài thì chỉ có thể phá hoại xã hội mà thôi. Chính vì thế, ông chủ trương: “Có chí học hành theo đạo, dựa vào đức, ung dung học nghề”. Cũng từ đó, các bậc tiền nhân Việt Nam đã dạy con cháu mình “tiên học lễ, hậu học văn”.

    Như vậy, theo lý luận sống của Khổng Tử, để trở thành học trò, người đó phải là người cái đã, nghĩa là phải có đạo đức. Học trò muốn học tri thức thì phải tôn trọng người thầy. Lúc đó, danh mới chính mà nghe thầy giảng giải. Khi đạt được luân lý đạo thường rồi, trò mới có thể học tri thức sâu rộng. Đối với Khổng Tử, khi học thì phải “học cho rộng, hỏi cho kỹ; nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng tỏ, làm cho hết sức. Có điều không học, nhưng đã học điều gì thì phải học cho kỳ được. Có điều không hỏi, nhưng khi đã hỏi điều gì thì phải hỏi cho thật hiểu. Có điều không nghĩ nhưng đã nghĩ điều gì thì phải nghĩ cho ra. Có điều không phân biệt, nhưng đã phân biệt điều gì thì phải phân biệt cho minh bạch. Có điều không làm, nhưng đã làm điều gì thì phải cố hết sức mà làm cho bằng được… Nếu quả theo được đạo ấy thì tuy ngu mà cũng thành sáng, yếu đuối rồi cũng thành ra khoẻ mạnh”. Lời dạy của Khổng Tử có thể khái quát cho trò các phương pháp học sau:

2.1. Học đi đôi với hành. 
    Điều này rất quan trọng. Nếu không, ngay câu đầu trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã không nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? (Học phải hành liền, chẳng vui lắm sao?)”. Rõ ràng, Khổng Tử nhấn mạnh lý thuyết và thực hành, mà đến nay những người hiện đại như chúng ta vẫn còn luôn đề cập trong giáo dục. Lý thuyết là cơ sở tri thức, bao gồm những quy luật tự nhiên và xã hội, làm nền tảng để người học vận dụng vào thực tiễn (thực hành) một cách đúng đắn. Còn thực hành là cơ sở kiểm nghiệm lý thuyết, bổ sung cho lý thuyết và rèn luyện thao tác cho người học theo đúng như lý thuyết đã học. Học lý thuyết mà không thực hành thì chỉ nói suông, thực hành mà không lý thuyết sẽ gặp nhiều thất bại. Khổng Tử nhận xét về Nhan Hồi: “Ta tham dự việc học của Nhan Hồi, suốt ngày nó không làm trái, như kẻ ngu đần. Nhưng khi ngẫm kỹ thấy Hồi phát huy thực hành đầy đủ, như thế Hồi không phải kẻ ngu”. Nếu đã học thì hành cho bằng được. Cái gì cũng học, nhưng đến khi làm, chẳng biết làm như thế nào, điều đó chẳng lợi ích gì. Không Tử phê phán cái tri thức phi thực tiễn: “Học thông ba trăm bài Kinh Thi, khi được giao chính sự thì làm không nổi, đi sứ nước ngoài không ứng đối được. Học nhiều thế có ích gì?”

2.2. Học với bạn bè (học nhóm). 
    Khổng Tử ngụ ý điều này qua câu nói với người học: “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?(Có bạn từ xa đến viếng, chẳng mừng lắm sao?)”. Người học ắt phải có bạn, những người bạn không những gần mà còn ở xa. Những người bạn gặp nhau để trao đổi kiến thức, đàm đạo chuyện lễ nghĩa ở đời; từ đó, bạn bè học hỏi lẫn nhau. Thời xưa, có Bá Nha và Tử Kỳ, đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Điều đó, không đáng mừng lắm sao?
Quan điểm của khổng tử về học sinh
Quan điểm của khổng tử về học sinh
2.3. Học phải suy luận.
    Học mà không suy luận, thì kiến thức không thể mở mang. Như thế, học theo kiểu nhồi sọ như con vẹt, học nữa cũng chẳng lợi ích gì. Trong thế giới rộng lớn này, biết bao điều mới lạ bên ngoài, không tư duy, không biện chứng những điều đã và đang học, thì học đến khi nào mới cho thông, mới cho biết. Quan điểm này được Khổng Tử thể hiện rõ trong lời dạy sau: “Kẻ nào chưa uất ức vì chưa hiểu được thì ta không gợi mở cho. Kẻ nào không hậm hực vì chưa thể nói ra được thì ta chẳng hướng dẫn cho nói. Kẻ đã được ta chỉ cho một góc (vuông) mà chẳng biết tự xét ba góc kia thì ta chẳng dạy nó nữa”. Để mau tiến bộ, dù muốn hay không trò cần phải suy luận, phải biện chứng những điều mình học. Trò cần phải tìm những mối liện hệ giữa những cái đã biết đến những cái chưa biết, từ những điều dễ đến những điều khó, từ tri thức gần đến tri thức xa. Trong một lần trò chuyện với Tử Cống, Khổng Tử hỏi: “Ngươi với Nhan Hồi ai giỏi hơn?” Tử Cống đáp: “Con làm sao dám sánh với Nhan Hồi. Hồi nghe một việc thì suy ra được mười việc, con nghe một việc chỉ suy ra được hai việc thôi.” Khổng tử nói: “Chẳng bằng. Ta và ngươi chẳng bằng Hồi.”

2.4. Học phải hỏi.
    Khổng tử nói với Tử Lộ (trò Do): “Này trò Do, ta dạy ngươi, có hiểu bài không? Biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết. Đó là biết vậy.” Trong quá trình học, dĩ nhiên có những điều chưa biết, những điều còn mù mờ và những điều xem chừng chưa tâm đắc. Vì thế, trò rất cần thiết lời giải thích cặn kẽ của thầy. Nếu không hỏi cho kỹ, thì kiến thức chưa thông. Nếu kiến thức chưa thông thì có thể nói điều không đúng. Nếu nói điều không đúng, thì thiên hạ sẽ khinh thường trò, và chế giễu thầy. Chính vì thế, các bậc tiền nhân đã dạy con cháu “muốn giỏi phải học, muốn học phải hỏi”.

2.5. Hiểu rõ nên làm, hiểu ít nên xem xét. 
    Cũng như trên đã đề cập, trò hiểu chưa sâu, biết chưa uyên thâm, nếu nói ra dễ dàng mắc sai lầm. Phải chăng nên giữ lại, tìm hiễu cho kỹ hơn, nghiên cứu sâu rộng hơn, đến khi tri thức đã chắc chắn, thì lúc ấy mới nói ra. Đây cũng là cách lấy lòng thiên hạ. Tử Trương hỏi cách học cầu bổng lộc, Khổng tử nói: “Cần nghe nhiều, điều nghi ngờ giữ lại, điều gì hiểu rõ thì nói ra, như thế ít sai lầm. Phải quan sát nhiều, giữ lại điều nghi ngờ đừng làm, chỉ làm cái điều chắc chắn, như vậy ít hối hận. Nói năng ít sai, làm ít hối hận thì bổng lộc nằm trong ấy rồi.”

2.6. Học tập suốt đời. 
    Nhan Uyên ngậm ngùi than rằng: “Đạo của thầy càng ngước lên nhìn, càng thấy cao, càng nghiên cứu càng thấy sâu xa. Mới thấy phía trước, lại thấy phía sau. Thầy khéo léo dẫn giải cho ta hiểu. Thầy dùng đủ loại văn chương làm cho ta hiểu, lại dùng lễ tiết để đưa hành vi của ta vào khuôn phép, khiến ta muốn thôi cũng không được. Ta cố sức học mà vẫn thấy thầy đứng sừng sững trước mặt…Ta muốn theo đến cùng mà khó đạt yêu cầu của thầy ta”. Lê-nin cũng đồng quan điểm này với câu nói nổi tiếng “Học, học nữa học mãi”. Trong thế giới rộng lớn bao la này, kiến thức rất mênh mông, nhưng sức người có hạn, nên cái gọi là học hết, chỉ là điều phi thực tế. Chân trời tri thức không bao giờ tồn tại. Cái mình biết hôm nay sẽ trở nên lạc hậu vào ngày mai. Vạn vật trong thế giới này đều vận động và biến đổi không ngừng. Cái mới mỗi ngày ra đời, bổ sung càng nhiều vào kho tàng tri thức của loài người. Như thế, hà cớ gì con người phải dừng học.

    Hơn hai ngàn năm, lời dạy của Khổng Tử vần còn thâm thúy cho thế hệ chúng ta đáng suy ngẫm. Tuy lời dạy này mang tính tư tưởng, chưa có cuộc nghiên cứu khoa học thực nghiệm vào thời của ông. Nhưng các nhà tâm lý học giáo dục vào thời nay như: thuyết nhận thức (cognitivism) của Jean Piaget, thuyết kết nối (connectivism) của Siemens and Downes, thuyết hành vi (behaviorism) của John B. Waston và thuyết kiến tạo (constructivism) của Jesse G. Delia đã chứng minh phương pháp dạy và học của Khổng Tử trong thực tiễn. Nhưng trên hết mọi vấn đề đó là đạo đức. Chữ “Lễ”, ý nói đạo đức, đều được đề cập đến trong hầu hết các lời dạy của ông. Giáo dục là nguồn gốc của mọi vấn đề, vì giáo dục hình thành nhân cách và nghề nghiệp cho con người. Giáo dục suy thoái thì tạo ra những con người vô đạo đức và không biết làm chuyện gì, điều đó sẽ kéo theo xã hội hỗn loạn, mất trật tự, nghèo đói và dần dần bị diệt vong. Giáo dục tốt sẽ tạo ra những tinh hoa cho xã hội, làm cho xã hội có trật tự và hưng thịnh. Do đó, giáo dục phải chính danh cái đã; mà cụ thể hai đối tượng chính là thầy và trò, phải chính danh: Thầy phải ra thầy, trò phải ra trò.